Nhìn lại chặng đường xây dựng và hoạt động của hệ thống giáo dục của Việt nam kể từ lúc nước nhà được độc lập 2.9.1945 đến nay . Chung tôi chỉ xét từ cái mốc 1945 là vì trước đó tuy các hoạt động dạy và học ở nước ta đã có nhưng tự phát và manh mún, không có tính nhất quán trong hình thức tổ chức, cung như trong phương pháp giảng dạy, ngay cả ngôn ngữ dùng để day và học cũng không thống nhất vì xã hội Việt nam lúc đó là xã hội nửa phong kiến kiểu Nho giáo, nửa thuộc địa của thực dân Pháp.
Theo cách nhìn riêng của mình, chung tôi tạm chia nó ra ba thời kì căn cứ vào sức sống, tính hiệu quả của Hệ thống giáo dục: Từ 1945 đến những năm 70 chúng tôi gọi là thời kì xuất phát thấp, từ những năm 70 đến đầu những năm 90 gọi là thời kì bi hài, còn từ đó đến nay gọi là thời kì mất hướng.
Trong thời kì xuất phát thấp chúng ta khởi nghiệp xây dựng hệ thống giáo dục từ một cái nền gần như trắng trơn, phơi phới niềm tin cách mạng xã hội chủ nghĩa chúng ta không do dự nhập khẩu mô thức xây dựng và hoạt động hệ thống giáo dục từ Liên xô và Trung quốc. Cũng như trong các nước xã hội chủ nghĩa khác, cái mới lạ của tư duy duy lí về một xã hội ưu việt là nét chủ đạo làm cỗ máy giáo dục mới tinh vận hành một cách có hiệu quả, khi mà vốn tri thức của cả nhân loại chưa phát triển ồ ạt trong tất cả các lĩnh vực, nghiên cứu khoa học kĩ thuật đang nặng về nghiên cứu cơ bản vì ở đó còn tồn tại nhiều mảng hoang vu, nhu cầu con người còn đơn giản và ít đa dang nên dễ dàng chấp nhận, đồng lòng, đặc biệt là lúc đó công nghệ thông tin mới manh nha ra đời chưa xâm nhập sâu rộng vào cuộc sống của con người nên chưa khẳng định vai trò đòn bẩy phát triển xã hội loài người của kĩ thuật vô cùng lợi hai này, trong bối cảnh đó hệ thống giáo dục Việt nam tuy rất gian đơn nhưng đã phần nào đáp úng đươc nhu cầu đào tạo con người của xã hội cấp thấp, nhiều thành quả giáo dục đóng góp tuyên truyền cho sự ưu việt tiến bộ của tư tưởng chính trị càng được nâng cao đầu tư nên càng đạt được kết quả rực rỡ. Học sinh sinh viên được bao cấp mọi mặt có nhiều thời gian dành cho học tập, phấn đấu hơn, hoạt động nghiên cứu khoa học theo mô hình trại lính phục vụ cho các mục tiêu cách mạng dễ dàng đạt đến thành tích có tính giai đoạn hơn. Thời kì xuất phát thấp của nền giáo dục hiển nhiên là phát triển đúng qui luật, đáp ứng được đòi hỏi của xã hội vốn còn dễ tính lúc đó. Không ai không thấy được những thành công trong giáo dục đào tạo ở nước ta lúc đó, phủ nhận sạch trơn thành quả của thời kì này là không khoa học, không công bằng vì bằng chứng là nhiều nhà khoa học Việt nam nổi tiếng được đào tạo lúc đó cho đến tận bây giờ đã và đang tiếp tục cống hiến có hiệu quả cho xã hội, nhiều người trong số họ đang là những người có ảnh hưởng đến vân mệnh khoa học cũng như xã hội của đất nước hiện nay. Với nền kinh tế còn thấp, đất nước còn bị chia cắt và chiến tranh khốc liệt thì những gì chúng ta đạt được trong sự nghiệp “ Trồng Người” như cách nói của Bác Hồ là đáng tự hào.
Sau khi thống nhất đất nước, dân tộc Việt nam chúng ta bước vào thời kì tập trung toàn lực cho khắc phục hậu quả chiến tranh quá dài, quá tốn kém sức người và của cải. Đất nước chúng ta lại bị bao vây cấm vận về mọi mặt. Tính ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong đấu tranh rất có hiệu quả, thì trong dựng xây đất nước dần thể hiện sự yếu kém thậm chí còn là yếu tố kìm hãm sự phát triển toàn diện của xã hội loài người. Ở Việt nam, chế độ bao cấp do tư duy duy lí lí thô sơ làm cho cả xã hội đắm chìm trong bảo thủ, quan liêu. Sức cạnh tranh thấp kém khiến cơ sở vật chất cũng như tinh thần của Nhà nước dành cho hoạt đông giáo dục ngày càng giảm sút, khi cả nước loay hoay trong việc chống đói thì hệ thống giáo dục trở nên nhếch nhác về mọi mặt. Những người trực tiếp giảng dạy có đồng lương chết đói, không đủ trang trải cho cuộc sống trong một vài ngày của tháng, giáo viên không thể chỉ chú tâm vào công việc của mình, họ phải làm thêm đủ các loại hình kiếm sống không mô phạm ngoài giờ đến lớp, thậm chí hiện tượng bỏ nghề đi buôn không phải là hiếm có khắp cả nước. Các trường Đại học không còn là các trung tâm nghiên cứu khoa học thực thụ nữa khi không đủ kinh phí nghiên cứu cũng như đào tạo. Nhiều trường chỉ còn là hình thức của thực chất chỉ là một trường phổ thông cấp 4. Hàng loạt các nhà giáo có tài, có bằng cấp cao, lặn lội tìm cách đi bán chất xám một cách rẻ mạt ở châu Phi, Châu Nam Mỹ, trong khi trong nước rất thiếu giáo viên có chất lượng. Trong khi đó người ta vẫn không ngừng tuyên truyền về tính ưu việt của hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa không giống ai của mình, họ ru ngủ nhau bằng các thành tích của quá khứ, họ đánh bóng lòng tự hào của dân bằng các cuộc huấn luyện gà chọi, các máy giải toán nhằm giành lấy những thành tích cao trong các kì Olympic toán hoc và lí hoc không phản ánh đúng trình độ chung của học sinh Việt nam. Đó là thời kì “Bi hài” của nền giáo dục chúng ta vậy.
Vaò những năm đầu của thập kỉ vừa qua hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sụp đổ, như là một tất yếu do nhiều nguyên nhân, kết thúc một thời dài chiến tranh lạnh chia đôi thế giới. Xã hội loài người trở nên rộng rãi, hòa bình và thân thiện hơn. Hội nhập trong sự phát triển có tính toàn cầu hóa, những đất nước nào không chịu mở của là tự mình kìm hãm mình trong nghèo nàn và lạc hậu. Việt nam chúng ta đã khởi sắc dần nhờ nhiều nới lỏng các chính sách kinh tế, khoa học và ngoại giao. Đảng ta đã nhận thức được những yếu kém có tính nội tại của mình và đã tích cực tự đổi mới theo hướng dân chủ hơn, mở cửa và năng động hơn trong lãnh đạo Nhà nước. Thông thương quốc tế vừa là nhu cầu, điều kiện cho thành công, cho phát triển nhưng cũng là thách thức đối với trình độ bị gò ép bó buộc một thời gian dài vừa qua của con người Việt nam. Thực tế cho thấy chúng ta yếu kém rất nhiều thứ, nhưng cái chúng ta thiếu nhiều nhất mà khó bù đắp nhất đó là nhân tố con người. Không thể ngày một ngày hai chúng ta có được một thế hệ có đủ tri thức đáp ứng hệ thống kinh tế, cơ sở vật chất hiện đại, những thứ mà chúng ta không phải là quá khó để vay mượn, mua sắm hoạc kêu gọi đầu tư hàng loat với chính sách dễ giãi, thiệt thòi. Đào tạo con người là một quá trình lâu dài và gian khó. Đáng lẽ, ngay khi tìm cách mở rộng cửa đón đầu tư, đón hội nhập, đón sự phát triển khoa học và kĩ thuật phát triển với tốc đọ chóng mặt chúng ta phải đầu tư thỏa đáng để cải cách toàn diện, thậm chí thay đổi hẳn hệ thống giáo dục thì cho đến thời điểm hiện nay chúng ta đã có đến 10 thế hệ thanh niên đầy đủ khả năng làm chủ đất nước một cách có hiệu quả rồi. Thế nhưng, cho đến nay, sau gần 20 năm mở cửa, chúng ta vẫn giữ nguyên hệ thống giáo dục cũ vá víu và quá tải. Một hệ thống giáo dục thiếu lí luận cơ bản dẫn đường, một hệ thống giáo dục dù đổ hàng đống tiền vào đó để nâng cấp cũng không thể nào thoát ra khỏi được hàng loạt mâu thuẫn nội tại: Mâu thuẫn giữa chức năng đào tạo con người có trình độ rộng rãi tiên tiến với chức năng minh họa cho ý tưởng chính trị tưởng rằng ưu việt hóa ra đã lỗi thời; mâu thuẫn giữa tính phổ cập có chọn lọc khi cung cấp tri thức với sự ôm đồm, tham lam tri thức trong các chương trình đào tạo, trong các sách giáo khoa, giáo trình; mâu thuẫn giữa số lượng con người được đào tạo tràn lan dễ dãi tạm thời với yêu cầu chất lượng của các trường chuyên nghiệp…Chúng ta đã mất hướng để càng ngày càng mất hướng hơn, nếu không nhanh chóng chấp nhận đau đớn để thay đổi một cách quyết liệt và có phương pháp, hệ thống quản lí giáo dục, hệ thống cấu trúc bộ máy giáo dục của mình.
Với những hiểu biết, tuy chưa phải chuyên sâu lắm, về hệ thống giáo dục Việt nam của mình, cũng như một số tìm hiểu riêng về mô hình và cách vận hành của hệ thống giáo dục ở những nước mà chúng tôi đã từng học, chúng tôi có nhận xét đầu tiên là chúng ta thiếu một triết lí giáo dục đúng đắn dân đường, hay nói cách khác chúng ta chưa có một hệ thống lí luận đúng đắn chặt che và nhất quán xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục quốc gia. Hệ thống lí luận đó vừa có tính triết học phổ biến và hiện đại vừa phù hợp với con người, truyền thống văn hóa, điều kiện kinh tế của Việt nam ta.
Giáo dục là quá trình hoạt động có tính phân công của xã hội con người, chính nhu cầu học của từng cá nhân và nhu cầu phát triển có định hướng của cộng đồng đòi hỏi hệ thống giáo dục một cách chuyên nghiệp ra đời, nó thay thế một cách có hiệu quả công việc day dỗ con cái của bố mẹ khi nuôi dạy con hướng đến tương lai một cách tự phát. Học là để hiểu biêt, học là để thích ứng cao hơn, học là để có một nghề nghiệp nuôi sống mình và con cái mình, học là để sống tốt hơn, hài hòa và có ích hơn trong mối quan hệ tương tác giữa cá nhân với nhau và với cộng đồng. Học vừa là nhu cầu tự thân vừa có tính bắt buộc sống còn, nhất trong những xã hội phát triển cao, tri thức phông phú và hiện đại. Nhưng ở Việt nam do sự chính trị hóa học đường, sự can thiệp mọi mặt chặt chẽ sâu sắc của chính trị làm cho hệ thống giáo dục chỉ còn chức năng công cụ minh họa, cũng cố vai trò độc tôn của một hệ tư tưởng độc nhất, hoạt động học và dạy chỉ nhằm minh họa cho sự đúng đắn duy lí của hệ thống chính trị về một con người mới. Sự mất dân chủ trong xã hội kéo theo sự mất dân chủ trong giáo dục, dĩ nhiên nó mất khả năng tự điều chỉnh khi bị lạc hậu, quá tải. Không chú trọng nhu cầu tự thân của từng cá nhân, sản phẩm của hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa là những con người na ná nhau, ít bản sắc, sợ trách nhiệm bằng cách chui vào cái đám đông cũng thiếu cái tôi như mình, lười suy nghĩ sáng tạo. Chính những con người đó khi trở thành lực lượng lãnh đạo, quản lí hoạt động giáo dục thì dĩ nhiên làm sao đủ năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình được. Tai hại hại hơn là những người làm công tác soạn thảo chương trình và soạn thảo sách giáo khoa dùng cho các trường phổ thông và đại học, tâm lí sợ trách nhiệm, sợ qui chụp tư tưởng chính trị có thể dẫn đến mất chức quyền, địa vị thậm chí bị tù đày, tâm lí dấu dốt nhưng lại thích phô trương khối lương kiến thức theo kiểu thà có nhiều còn hơn bỏ sót, không phân biệt giữa sự độc đáo sáng tạo trí tuệ với sự lập dị, phản qui luật. Với đòi hỏi ôm đồm toàn diện một cách hình thức: tính chính trị, tính dân tộc, tính đại chúng, tính hiện đại, tính kế thừa, tính biện chứng, tính nhân văn …các chương trình day học cũng như sách giáo khoa, giáo trình trở thành cồng kềnh, quá tải. Khiến cho người học luôn trong trạng thái bị nhồi nhét, thiếu thời gian cho tư duy chủ động. Quá đề cao chính trị hóa học đường, chương trình giảng dạy và nội dung tri thức cung cấp cho người học bị mất dân chủ trầm trọng, khả năng mềm, khă năng thích ứng và phát triên đa dạng của người day và người học bị hạn chế tối đa.
Vậy có một nền giáo dục phi chính trị hay không ?
Thế hiểu như thế nào là chính trị ? Khi xem sơ lược chính trị là Tổ hợp hình thái tổ chức hoạt động bộ máy cai trị của một quốc gia, nó được thể hiện qua hình thức tổ chức Nhà nước, hình thức hoạt động điều hành bộ máy lập pháp và hành pháp, và nội dung sách lược phát triển kinh tế và xã hội của một nước hay một nhóm nước cùng lợi ích.
Trên nhận thức về chính trị như vậy khi xem xét mối quan hệ giữa chính trị và giáo dục, trước hết chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm Tri thức của nhân loại và tri thức của một con người. Cũng như quyền tự do vốn là tài sản chung của con người, tri thức của nhân loại là không biên giới, không chỉ trong một quốc gia, không của riêng ở một dân tộc, là mẫu số chung cho tất cả mọi người trên thế giới về mặt nhận thức, trí tuệ, đạo đức khi nói đến quá trình phát triển ngày càng cao của xã hội loài người. Nhưng con người cụ thể thì lại không thể sống ngoài một quốc gia cụ thể với một Nhà nước cụ thể, một xã hội cụ thể, ở đó Hệ thống giáo dục có tư cách như là một tổ chức chuyên trách của tổ chức Nhà nước, một Bộ Giáo dục chủ quản trong bộ máy chính phủ hành pháp gồm nhiều bộ khác nữa. Như vậy Hệ thống giáo dục làm nhiệm vụ chính trị của mình đối với quốc gia, đối với sự phát triển của xã hội theo định hướng của Nhà nước vốn được người dân lập ra bằng góp vốn tự do của mình, thay mình điều hành xã hội chung, bằng công tác giảng dạy, giáo dục và đào tạo bằng hệ thống cơ sở vật chất trường lớp cũng như lực lượng giáo viên .Phân tích như vậy để thấy rằng chính trị có ảnh hưởng đến tri thức của con người thông qua hoạt động hoạch định và tổ chức thực hiện kế hoạch của hệ thống giáo dục. Khối lượng tri thức cũng như chất lượng nhận thức của mỗi người đi học nhận được, tất nhiên phần nào bị hạn chế bởi hoạt động có tính chất kế hoạch nhà nước đó, chứ chính trị không được ép buộc cưỡng chế để chỉ được học cái gì hay không được học cái gì, không có quyền hoạch định đúng sai trong nội dung tri thức theo quan điểm chính trị của một tổ chức nào đó, càng không có quyền ấn định tính nhất nguyên trong nhận thức tư tưởng và càng không có quyền bớt xén thời gian day và học tri thức khoa học, kĩ thuật để thay vào đó môn học chính trị tư tưởng có tính áp đặt.Trong một quốc gia, dưới sự điều hành của một thể chế chính trị thông qua tổ chức, quản lí và vận hành cỗ máy giáo dục dào tạo, sẽ được đấnh giá qua giá trị của một Chỉ số. Chỉ số này thể hiện qua phân số có tử số là Tri thức của công dân trên mẫu số chung Tri thức Nhân loại. Chỉ số đó có giá trị càng gần đến 1, nghĩa là hệ thông giáo dục của nó hoạt động có hiệu quả. Vậy nên, một nền giáo dục quốc gia không thể hoàn toàn phi chính trị được, nhưng tri thức của từng cá nhân có thể không mang tính chính trị trong nội dung và chất lượng cuả nó, anh có thể dùng nó mà sống ở khắp thế giới mà không bị tẩy chay, chống đối như một số tư tưởng chính trị đã từng bị chống đối, tẩy chay.
Nói như vậy, thì chúng ta lí giải làm sao ? khi có rất nhiều người trình độ rất cao, và hiểu biết sâu rộng rất nhiều vấn đề nhưng không thành công khi áp dung trong thực tiễn đời sống hiên tại, thậm chí nhiều kiến thức rất cao siêu ngang tầm hoặc trên tầm thế giới nhưng chẳng để làm gì cả, nhất là ở Việt nam. Ví dụ: chúng tôi có nghe phong phanh một số ý kiến về hiện tượng mà họ gọi là gì nhỉ ? à… hiện tượng “ tự sướng” trong nghiên cứu lí thuyết chẳng hạn, có nhiều công trình chỉ có một số rất ít người hiểu và tán dương nhau rồi đi vào nằm ngủ trong thư viện, chẳng có tác dụng trong cuộc sống gì cả, ít nhất là trong lúc này.
Như vậy là đã hiểu hẹp nghia của khái niệm Tri thức mất rồi ! Tri thức mà chúng tôi muốn nói đến ở trên là bao hàm nhiều mặt chứ không chỉ có Kiến thức khoa học mà thôi !
Về vấn đề này chúng tôi cần thống nhất một ý kiến có tính chất học thuật, để tiếp tục bàn luận tiếp có hiệu quả hơn, Chúng ta cần làm rõ với nhau cụm khái niệm có tính phạm trù Nhận thức, Kiến thức, Văn hóa, Tri thức và Trí thức một cách tương đối như sau:
+ Nhận thức trong ngôn ngữ Hán Việt mô tả một quá trình tâm lí của con người, trong đó có chủ thể với nhu cầu khám phá, hiểu biết, có đối tượng được con người đó lựa chọn để khám phá, hiểu biết, phương tiện con người sử dụng trong quá trình đó là hàng loạt thao tác tâm lí: cảm xúc, cảm nhận, quan sát, liên tưởng …nhào năn bằng các thao tác tư duy theo con dường qui nạp hay diễn dịch quyện chặt nhau con người nhận được hiểu biết có tính bản chất, khái quát về đối tượng.
+ Kiến thức là khái niệm trong ngôn ngữ Hán Việt dùng để mô tă khối lượng nhận thức có tình bền chắc và hệ thống về một lĩnh vực nào đó của một con người hoặc một nhóm người. Nhận thức đơn lẻ có thể bị quên, nhưng khi đã được xếp vào hệ thống kiến thức trong não bộ, trong hoạt động sống thì nó trở nên bền chắc và phần nào trở thành bản năng sở hữu, là giá trị trí tuệ của con người trong thiên nhiên và trong xã hội.
+Văn hóa là khái niệm có tính trừu tượng mô tả phẩm chất sống, phẩm chất trí tuệ và đạo đức có tính lâu dài của xã hội con người. Hiện nay người ta chia ra văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Chúng ta không giải nghĩa văn hóa vật thể vì nó không có vai trò quan trọng trong lắm trong bàn luận của chúng ta hôm nay. Văn hóa phi vật thể bao gồm tất cả phẩm chất hoạt động có tính người của xã hội loài người trong tất cả các lĩnh vực, thành phần và cấp độ. Trong chính trị nó thể hiện quan hệ dân chủ giữa Nhà nước với công dân, giữa người lãnh đạo với người bị lãnh đạo và giũa người với người. Trong xã hội, văn hóa phi vật thể thể hiện qua phẩm chất thái độ ứng xử của con người trong cuộc sống hàng ngày, thể hiện qua đạo đức, qua ý thức của con người đối với cộng đồng, qua ý thức tôn trọng qui ước, qui tắc và pháp luật trong một nhà nước dân chủ mà họ cùng nhau xây dựng nên, vì họ mà hoạt động.Văn hóa phi vật thể của một dân tộc còn thể hiện bằng truyền thống yêu nước, yêu thiên nhiên, yêu quê hương, qua phong tục, tập tục đậm đà tình người trong cuộc sống cộng đồng, đời sống gia đình và quan hệ nam nữ, và dặc biệt là các sản phẩm sáng tạo truyền khẩu dân ca hò vè, âm nhạc truyền thống và hiện đại…Với quan niệm về văn hóa như vậy ta thấy kiến thức của con người trong xã hội đóng vai trò là điều kiện cần thiết và quan trọng để xây dựng một nền văn hóa cao ở mỗi một người cũng như dân tộc, quốc gia. Nhưng có kiến thức cao, rộng rãi chưa đủ để một con người được đánh giá là có văn hóa hoặc văn hóa cao, anh ta cần phải có thêm các phẩm chất đạo đức, phẩm chất không thể thiếu trong công việc, trong ứng xử xã hôi nữa.
+ Bây giờ thì các bạn đã thấy rằng tri thức của con người là khái niệm bao hàm tất cả mọi thành quả hoạt động nhận thức, khối lương và chất lượng kiến thức về cuộc sống cũng như chuyên môn, đặc biệt là kiến thức đúng đắn làm nền văn hóa cho phảm chất đạo đức tốt đẹp của anh ta trong mọi nơi mọi lúc của cuộc sống. Tri thức càng cao con người càng tự do, cuộc sống càng hài hòa, khả năng cống hiến cho cộng đồng càng nhiều trong một quốc gia văn hóa cao. Người có tri thức cao không thể là kẻ vô văn hóa, xã hội có tri thức cao không thể là xã hội mất tự do, nhà nước tri thức cao không thể là nhà nước độc tài phi dân chủ. Qui luật phát triên không ngừng ngày càng cao của tri thức nhân loại là qui luật tất yếu, mãi mãi.
+ Khái niệm Trí thức là để phân loại một cách tương đối loại hình hoạt động xã hội, lao động hành nghề nặng về sử dụng trí tuệ hơn trong phân công xã hội của loài người mỗi ngày một phát triên cao hơn và đa dạng hơn. Đó là những con người Trí thức. Từ hơn một thế kỉ nay, tầng lớp trí thức càng ngày càng khẳng đinh vai trò tiên phong cách mạng của mình, không có sự khởi xướng dẫn dường của tầng lớp trí thức mọi cuộc cách mạng cân đại không thể thành công được kể cả cách mạng vô sản. Không những thế, trí thức càng ngày càng chứng minh sức mạnh vô bờ bến của mình với tư cách lực lượng sản xuất ra của cải vật chất cũng như tinh thần cho tất cả các dân tộc , quốc gia. Chính thể nào khinh thường trí thức, đè nén, bức hại trí thức, chính thể đó đang tìm cách tự sát.
Bây giờ chúng tôi sẽ nói về quan niệm nghề nghiệp trong xã hội, chính quan niệm bất bình đẳng về nghề nghiệp làm cho hệ thống giáo dục mất cân đối. Ở Việt nam hiện tượng ai ai cũng muốn đi học là chính đáng, đáng mừng, nhưng bảo đó là xuất phát từ truyền thống hiếu học của dân tộc e rằng không phải hoàn toàn là đúng, vì đối với nhiều người có năng lực trí tuệ, có kĩ năng kĩ thuật cao thì việc học lên bậc Đại học hoặc trên nữa là chính đáng, nhưng nhiều người - phải nói là đa số - công việc thích hợp cho họ, phù hợp với năng lực bẩm sinh của họ là nhưng ngành nghề không cần đầu tư thời gian và tiền bạc để lao vào các trường học vấn cao để làm gì, nhưng họ và bố mẹ họ vẫn tìm mọi cách để đi học để rồi nhận được những bằng cấp không phản ánh đúng khả năng, không tìm được việc làm hoặc dù chạy vay hoặc may mắn tìm được việc làm thì họ cung chẳng làm tốt được công việc, rốt cuộc họ phải dối trá , mánh khoé, lừa lọc, mua bán để trụ được trong cương vị của họ một cách nhàng nhàng. Hiện tượng đó sinh ra nhiều hệ luỵ trong hệ thống giáo dục đào tạo và trong xã hội, như sự ồ ạt học Đại học gây nên các cuộc thi tuyển căng thẳng tốn kém, để đáp ứng nhu cầu giả tạo đó các loại trường đại học không có chất lượng mọc lên như nấm gây lãng phí tiền của của nhà nước, lãng phí tiền của của bố mẹ. Đáng lí chỉ cần một thời gian ngắn để học nghề , tăng thời gian làm việc thực tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội và cho bản thân, thì người đi học không chính đáng và ít hiệu quả, làm mất bao nhiêu là thời gian có ích .Nguyên nhân của hiện tượng đó là gì vậy, vì sao không khắc phục được ? Nhiều người đổ lỗi cho tư tưởng Nho giáo “ học để làm quan” từ bao đời nay thấm sâu vào tiềm thức con người, thấm sâu vào truyền thống của dân tộc, khó mà khắc phục được. Người khác thì tìm nguyên nhân ở kinh tế không đồng đều giữa thành thị nông thôn, giữa các ngành nghề, giũa các khu vực lao động, nên người ta đổ xô vào đi học các ngành khi ra trường sẽ chỉ ở thành thị, hoặc có nhiều cơ hội tiếp cân với những nguồn tiền béo bở của Nhà nước, không làm nhiều mà vẫn hưởng lợi cao. Một số lại đi tìm nguyên nhân ở tâm lí tiểu nông của con người Việt, thích phân biệt sang hèn một cách hình thức khi chọn lựa nghề nghiệp cho mình và sau đó là cho con cháu mình. Nhiều người cố chạy vạy, học thật cao, đạt được học vị học hàm cao chỉ để thoả mãn lòng hãnh diện của dòng họ, gia đình và bản thân mà thôi.
Nhưng họ cũng chỉ mới nêu ra được hiện tượng, chứ chưa đi sâu được nguyên nhân. vậy cái gốc tích có tính bản chất của nó nằm ở đâu nữa ?
Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa nằm ở nền dân chủ, nằm ở hình thái tổ chức Nhà nứoc !Bạn sẽ phản đối ngay:
Nhưng Nhà nước, chính nhà nước đã và đang có nhiều chính sách điều hoà xã hội, phân bổ kinh tế các khu vực, trong kinh tế thị trường các ngành nghề có thu nhập cũng không chênh lệch lắm nữa. Thông qua các hế hoach, chương trình kinh tế xã hội vĩ mô và vi mô Nha nước đâu có xem nhẹ sụ đồng đều về mọi mặt, đó thôi ! Nhưng thực trạng vẫn không giảm đi, vây nguyên nhân đâu phải từ chính trị ?
Nguyên nhân sâu xa là từ chính trị hay nói rõ hơn là từ nguyên tắc tổ chức nhà nước thiếu dân chủ. Lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm xương sống tổ chức trong mọi lĩnh kinh tế, chính trị và xã hội là lật ngược nền dân chủ toàn dân trong sở hưu dân chủ, tự do của con người. Người càng lên cao càng có nhiều Tự do Dân chủ hơn, càng có nhiều quyền hơn nên càng được hưởng lợi nhiều hơn từ tài sản chung của Nhà nước, Ở những cấp càng cao pháp luật càng bị vô hiệu quả, tự do lộng hành càng thoải mái hơn, khi đến một cấp nào đó người ta đứng trên pháp luật, ngối xổm trên pháp luật, khi đó luật là do ý muốn của họ đố ai dám động đến. Bây giờ thì bạn hiểu vì sao ai cũng ngoi lên cao rồi chứ, chỉ có người hoàn toàn bất lực là chịu chết bẹp dưới cùng, còn có một tí khả năng nào đó là ta cố ngoi lên, mà phần đông cứ tưởng có bằng cấp cao là có địa vị cao nên người ta chọn con đường đi học, hy vọng bằng cách đó là tiền đề cho mọi phương pháp khác sau này sẽ đạt được mục đích. Trong một cái ao nhỏ chỉ nuôi độc một giống cá chép, dĩ nhiên đến một lúc nào đó chúng ta thấy mặt nước chen chúc đầu cá ngoi lên để ăn , để thở vì cá chép là giống cá sống bề mặt mà, sống dưới đáy lâu là nó bị chết ngạt ngay, hơn nữa thức ăn đâu còn chìm đến đáy được nữa vì nó đã bị xơi sạch từ trên mặt nước rồi. Đấy là chưa nói đến hiện tượng cá lớn nuốt cá bé một cách tàn bạo nữa đâu nhé.
Trong xã hội dân chủ, mọi người ý thức đựoc ở mọi cương vị khác nhau thực chất là đang làm việc có tính ngành nghề, nghĩa là anh làm tốt anh sẽ được hưởng lương cao, công việc quan trọng lương cao hơn việc ít quan trọng, năng lực của anh như thế nào anh có thu nhập như thế đấy, anh tơ hào tham nhũng, lấy hơn phần anh có quyền được hưởng từ thành quả lao động của anh sẽ bị phát hiện, lập tức bị mất việc ngay hay bị trừng trị theo pháp luât. Ý thức bình đẳng trước pháp luật kéo theo ý thức bình đẳng về loại hình công việc, nghề nghiệp và người ta cần quái gì bỏ thật nhiều tiền của, công sức và nhất là thời gian để giành lấy một mảnh bằng cao chẳng để là gì nữa.
Xuất phát từ những phân tích trên, giải thích vì sao mô hình hệ thống giáo dục của các nước Anh, Đức, Mỹ khác hẳn mô hình giáo dục của chúng ta. Ở những nơi đó người học có nhiều phương án chọn lựa phù hợp với khả năng nguyện vọng của mình hơn. Qua tìm hiểu, suy nghĩ, chúng tôi thấy ở ta cũng nên học tập họ để thiết kế một hệ thống giáo dục vừa hiện đại, hiệu quả, vừa phù hợp với đặc điểm dân tộc, văn hoá truyền thống và con người Việt nam. Tất nhiên công việc đó không một sớm một chiều là làm ngay được, cũng như không phải ngay lập tức đáp ứng được nhu cầu đặc thù của nước ta trong giáo dục và đào tạo. Nhưng rõ ràng rằng chúng ta không thể chần chừ được nữa, khi mong muốn cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật ở Việt nam sẽ tạo nên những nhảy vọt kinh tế quốc dân trong những thập kỉ đến.
Vậy hệ thống giáo dục cần có ở nước ta được cấu trúc như thế nào ?
Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày chỉ bằng lời một cách sơ lược nhất mô hình hệ thông giáo dục mà mình tâm đắc hiện nay. Sau này, nếu các bạn quan tâm, chúng tôi sẽ dùng sơ đồ tải từ trên mạng xuống để giải thích chi tiết hơn. Sau đây là mô hình hệ thống trường học mà chúng tôi lấy sườn chính từ hệ thống trường học của Đức, vì thật ra ở đó người ta cũng chưa thoả mãn với nó nên nhà nước vẫn liên tục tiến hành nghiên cứu sữa đổi nó, vì vây ở các Tiểu bang có sự phân biệt một số điểm với nhau thể hiện tính uyển chuyển của nó, nhưng nét chung vẫn là cơ bản.
Mong muốn của chúng tôi là ở nước ta tất cả trẻ em đều có quyền đi học miễn phí do Nhà nước đài thọ hoàn toàn trừ một số hoạt đông ngoại khoá và trừ việc học trong các trường tư nhân hay một phần học phí ở bậc Đại học. Đủ 3 tuổi các em được nhận vào các Trường Mẫu giáo, ở đó các em được học các kĩ năng chuẩn bị cho việc đi học, năm cuối cùng của mẫu giáo, lúc 5 tuổi các em được gọi là Trẻ sẵn sàng đi học và phải qua một kì kiểm tra đánh giá khả năng đến trường của mình bằng Hội đồng do phòng giáo dục cử ra cộng với nhận xét của cô giáo trực tiếp quản lí các em suốt 3 năm. Em nào không đạt, phải học lại hoặc chuyển sang hệ thống giáo dục riêng, Trường học đặc biệt, dành cho trẻ em thiểu năng.
Nhận được chứng chỉ của mẫu giáo, bố mẹ các em sẽ trực tiếp liên hệ với trường Phổ thông cơ sở để đăng kí cho con mình vào học lớp Một. Ngày nhập học lớp Một thực sự được tổ chức như một ngày hội cho các em, những đúa trẻ lúc này được gọi là Trẻ bắt đầu đi học. Trong bậc học đầu tiên này, tuy học sinh được học các môn học phức tạp và phong phú dần, nhưng các em chỉ có một cô giáo duy nhất và các môn học chưa cho điểm. Chỉ ở năm lớp 4 thì các môn chủ yếu mới được đánh giá điểm số dựa trên thang điểm từ 10 là tốt nhất đến 1 là kém nhất. Kết thúc năm học này của trường Phổ thông cơ sở các em nhận được giấy giới thiệu đi học lên cao hơn, giấy này được cấp cho các em dựa trên cơ sở điểm số trung bình các môn học chính và nhận xét đánh giá của cô giáo cùng Hội đồng giáo viên nhà trường có sự tham gia của nhân viên chuyên trách của phòng giáo dục thành phố. Thông thường em nào có điểm trung bình từ 8 đến 10 thì các em có 3 khả năng chọn hình thức học lên tiếp theo, đó là các Trường Chuyên, Trường trung học cơ sở và Trung học phổ thông, em nào có điểm trung bình trên 5 đến gần 8 thì chỉ được có hai khả năng chọn giữa Trường Trung học cơ sở hay Trung học Phổ thông, các em có điểm thấp hơn thí chỉ còn một khả năng vào Trung học cơ sở, còn em nào học quá kém sẽ ở lại học lại. Nếu bố mẹ các em nào thấy giấy giới thiệu không phản ánh đúng năng lực của con mình có quyền yêu cầu lập hội đồng thẩm định lại và nhà trường bắt buộc phải tiến hành thoả mãn yêu cầu đó nhưng kinh phí phải do người yêu cầu chịu. Ngược lại. có nhiều phụ huynh sau khi cùng bàn luận với con cái với sự tư vấn của chuyên gia giáo dục, tuy nhận đựoc giới thiệu 3 khả năng nhưng họ lại không chọn khả năng cao nhất cho hướng học tiếp của con cái họ.
Ở Trường Chuyên có hai hướng cho học sinh lựa chọn tuỳ theo thiên hướng cũng như khả năng của mình, đó là hướng học nặng về các môn học Khoa học tự nhiên hay nặng về các môn Khoa học xã hội để học liên tục cho đến lớp 12, nếu họ không bị chuyền đi sang các loại trường khác do học lực hoặc do nguyện vọng suốt trong các năm học, thì phải làm một kì thi khó khăn và phối hợp với điểm số trung bình các môn học quan trọng trong hai năm cuối họ sẽ nhận được Bằng Tú tài, trong đó có gi rõ điểm trung bình cho tất cả các yếu tố tham số. Ở hai năm cuối học sinh giảm dần những buổi lên lớp tập trung, do định hướng dần họ sẽ học theo thiên hướng nghề nghiệp mà liên tục các tổ chức tư vấn cho họ, ở lớp 12 học sinh được tổ chức đến các trường đại học, thông thường là các trường Đại học Tổng hơp Universitet để tìm hiểu. Trước khi đăng kí thi Tốt nghiệp học sinh phải chỉ rõ đựoc trường Đại học hoặc nhóm trường Đại học mà họ dự định xin vào học sau khi nhận được kết quả. Việc người đi học thực hiện được nguyện vọng hay không phụ thuộc vào chất lượng của học bạ và bằng Tú tài, có thể được nhận ngay hoặc phải chở 1 vài năm.
Ở trường Trung học phổ thông học sinh chủ yếu học các môn học phân bổ đều hơn, các môn cơ bản hướng theo hướng ứng dụng hơn, tuy vây mục tiêu của học sinh cũng hướng đến bậc đại học, ai học tốt dần hướng về khoa học cơ bản có thể được chuyển sang học hệ Trường chuyên, nếu có nguyện vọng, ở năm lớp 7 hoặc lớp 9. Kết thúc lớp 9 học sinh có quyền lựa chọn hoặc là đi sang các cơ sở day nghề để sau 3 năm sẽ đi làm một nghề nào đó, hoặc đi học tiếp ở các trường Chuyên hướng nghiệp, một hình thức trường học 3 năm cho người đi học tiếp để sau khi tốt nghiệp 3 năm này học sinh sẽ đăng kí vào học tiếp ở các trường Cao đẳng hay Đại học kỉ thuật để ra trường là các Kĩ sư, phân biệt với các Trường tổng hợp Universitat nơi học sinh nhận được Diplom sau khi ra trường vì có tính Lí thuyết, nặng về nghiên cứu khoa học hơn.
Ở trường Trung hoc cơ sở hướng đi chủ yếu là dành cho người học sớm đi vào cuộc sống nên các môn học cơ bản giảm xuống tối thiểu để dành cho các môn hướng nghiệp , tuy vậy ai có thiên hướng lên đại học cũng được tạo cơ hội chuyển sang Trung học Phổ thông ở năm lớp 7. Phần lớn học sinh học Trung học cơ sỏ hết lớp 9 là đi vào các trường dạy nghề hoặc trực tiếp vào các cơ quan xí nghiệp có nhận đào tạo nghề để nhanh chóng đi vào lao động có thu nhập ngay cho mình. Trong quá trình hành nghề người ta có thể học tiếp chuyên môn của mình trong các cơ sở đào tạo thi lấy bằng Bằng nghề bậc cao để thành thợ cả hoặc đốc công hoặc để mở cơ sở tự kinh doanh, như vậy trong khi bạn bè đang lặn lội trong các trường đại học để khi ra trường bấp bênh trong tìm việc làm, thì các thợ cả được mời chào với đồng lương cao hơn hẳn, cuộc sống cá nhân ổn định rồi hoặc đã là chủ doanh nghiệp rồi.
Mỗi một huyện hoặc thành phố đếu có những trung tâm dạy nghề và văn hoá cũng như rèn luyện kĩ năng mọi mặt kể cả ngoại ngữ của Nhà nước gọi là Trung tâm giáo dục nhân dân để cung cấp cho bất cứ ai muốn học thêm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, kinh phí có thể do nhà nước cho hoặc tự bỏ tiền túi, mục đích có thể vào đựoc các trường bậc cao nếu người học có nguyện vọng và ý chí.
Chúng tôi sơ qua vài nét chính về cấu trúc hệ thống trường học, theo đó nó có nhiều điểm chung hoặc tương đồng với hệ thống của Anh, Mỹ và Đức. Trong những hệ thống đào tạo này, người học có thể theo đuổi mục tiêu học tập của mình, nhưng người đào tạo là người chỉ cho họ cơ hội, để họ có thể thành công như thế nào ngay ở các cấp học, Tính liên thông của các hướng đảm bảo người học điều chỉnh sai lầm của mình hay của giáo viên đã đánh giá sai họ ngay lập tức hay ở các giai đoạn thích hợp trong suốt cuộc đời.
Ở chúng ta, người ta cũng đang tiến hành phân ban trong các trường phổ thông trung học, nhưng còn nhiều điều không hợp lí. Để có một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh hơn, có lẽ cần phải có sự thay đổi tư duy ở cấp rất cao nào đó.
Không những thế, các phương tiện thông tin đại chúng phải tuyên truyền cho người dân về sự bình đẳng của các nghề trong xã hội khi xét về phương diện đóng góp cho xã hội hay cho chính bản thân cũng như gia đình mình theo nặng lục thực chất của mình. Không chỉ nhăm nhăm đổ lỗi cho các nhà quản lí, hiện nay để nhớ hết các tên trường Đại học ở Việt nam khó một ông Bộ trưởng nào làm được.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét